Disc – at – Once

Disc – at – Once

Disc-at-Once: phương pháp ghi các CD phiên đơn trong đó đầu vào, các rãnh ghi dữ liệu đầu ra được ghi trong hoạt động đơn không cần tắt tia laser ghi; kế tiếp đĩa được đóng. Một đĩa được xem như đóng khi đầu vào cuối cùng (hoặc chỉ có một đầu vào) được ghi đầy đủ và địa chỉ có thể dùng được kết tiếp trên đĩa không được ghi trong đầu vào đó. Trong trường hợp này, đầu ghi CD không khả năng ghi bất kỳ dữ liệu thêm nào nữa trên đĩa. Nhận xét rằng không cần thiết đóng đĩa để đọc nó trong ổ đĩa CD-ROM bình thường mặc dù bạn có đưa đĩa đến một công ty sao chép đĩa, phần lớn họ yêu cầu đóng đĩa.

Track – at – Once

Các đĩa đa phiên có thể được ghi trong chế độ Track – at – Once (TAO) hay Packet Writing. Trong ghi Track – at – Once, mỗi rãnh được ghi riêng biệt (tia laser bật và tắt) trong một phiên , cho tới khi phiên bị đóng. Đóng một phiên là hoạt động của ghi đầu ra cho phiên đó, nghĩa là không nhiều rãnh ghi được thêm vào phiên đó. Nếu đĩa bị đóng cùng lúc, không nhiều phiên hơn được thêm vào.

Các rãnh ghi được ghi trong chế độ TAO được phân chia bởi những khoảng thời gian hai giây. Mỗi rãnh ghi có 150 sector của phần trên đầu (linking). Một ổ đĩa CD-R/RW có thể đọc các rãnh ghi thậm chí nếu phiên đó không bị đóng, nhưng để đọc chúng trong ổ đĩa CD-DA hay CD-Rom, phiên phải được đóng. Nếu dự định ghi nhiều phiên vào đĩa, bạn đóng phiên và không đóng đĩa. Tại điểm này, bạn bắt đầu phiên ghi khác và thêm nhiều rãnh ghi vào đĩa. Điều chính để ghi nhớ là mỗi phiên phải được đóng (đầu ra được ghi) trước khi phiên khác được ghi hay trước khi một ổ đĩa CD-DA hay CD-ROM bình thường đọc những rãnh ghi trong phiên.

Packet writing

Ghi gói (Packet writing) là phương pháp mà nhờ đó nhiều ghi được phép trong một rãnh ghi, do vậy làm giảm phần trên đầu và không gian lãng phí trên đĩa. Mỗi gói dùng bốn sector cho đầu vào (run-in), hai cho đầu ra (run-out) và một cho kết nối (linking). Các gói có chế độ dài cố định hay thay đổi, nhưng phần lớn ổ đĩa và phầm mềm ghi gói sử dụng một độ dài cố định bởi vì xử lý những hệ thống tệp tin theo cách này dễ dàng hơn và hiệu quả hơn.

Với packet writing, dùng phiên bản Universal Disk Format (UDF) 1.5 hay hệ thống tệp tin sau này, cho phép CD được coi như về thực chất giống như một ổ đĩa mềm lớn. Đó là, bạn có thể kéo và thả các tệp tin đối với nó, dùng lệnh sao chép để sao chép các tệp tin lên trên đĩa và tiếp tục. Phần mềm packet-writing và hệ thống tệp tin UDF quản lý mọi thứ. Nếu đĩa đang dùng cho packet writing là một CD-R, mỗi lần một tệp tin bị ghi đè hay bị xóa, tệp tin này dường như biến mất nhưng không lấy lại được không gian trên đĩa. Thay vào đó, hệ thống tệp tin chỉ quên đi tệp tin. Nếu đĩa là một CD-RW, không gian thực sự được tận dụng và đĩa sẽ không bị đầy cho đến khi bạn có nhiều hơn giới hạn những tệp tin thực sự được lưu trữ trong đó.

Không may, các phiên bản Windows cho đến Windows XP không hỗ trợ packet writing hay hệ thống tệp tin UDF trực tiếp, nên các trình điều khiển phải được tải xuống để đọc các đĩa được ghi gói và một ứng dụng packet-writing phải được dùng để ghi chúng. May mắn thay, dù vậy những phần mềm này được bao gồm với các ổ đĩa CD-RW. Một trong những chương trình packet-writing phổ biến nhất là DirectCd từ Roxio. Thậm chí bạn có thể tải xuống một ứng dụng miễn phí UDF phổ biến từ Roxio cho phép đọc các đĩa UDF 1.5 trên bất kỳ ổ đĩa CD-ROM hay CD-RW.

Windows 7 và Vista hỗ trợ UDF khá đầy đủ hơn các phiên bản Windows trước. Chúng có thể dùng Live File System (LFS –thuật ngữ có Microsoft cho UDF 2.01), các phiên bản UDF cũ hơn (1.02, 1.5), phiên bản UDF 2.5 mới, cũng như Mastered định dạng đĩa quang, Windows XP hay sau đó đọc được đĩa UDF 2.01, đĩa này hỗ trợ sao chép tệp tin kéo và thả trên Windows 7 hay Vista. Phiên bản UDF 1.02 được thiết kế để sử dụng với DVD-RAM, được hỗ trợ bởi Windows 98 và nhiều máy tính Apple. Phiên bản UDF 1.5 vận hành với Windows 2000/XP và Windows Server 2003 cũng như các hệ thống Linux dùng nhân phiên bản 2.6 hay lớn hơn. Phiên bản UDF 2.5 được hỗ trợ bởi Windows 7 và Vista. Đối với Linux Kernel 2.6.20 và mới hơn hỗ trợ phiên bản UDF 2.5, cài đặt chương trình vá tạm UDF – 2.50 từ http://sourceforge.net.

Ghi chú:

Bằng cách mặc định, Windows 7 và Vista dùng Live System (UDF 2.10) để định dạng các đĩa quang. Để chọn giữa Live File System va Mastered (sao chép các tệp tin một lần; không hỗ trợ sao chép tệp tin kéo và thả), chọn Show Formatting Options trong hộp thoại Burn a Disc. Để chọn một phiên bản UDF khác, chọn Show Formatting Options, kết tiếp Change Version trong hộp thoại Burn a Disc.

Ghi chú:

Windows XP cũng giới hạn hỗ trợ CD-RW trong định dạng IMAPI(image mastering application program interface), định dạng cho phép dữ liệu được lưu trữ tạm thời trong ổ cứng trước khi ghi vào CD trong một phiên. Các phiên bổ sung có thể được ghi cho cùng một đĩa, nhưng để lại 50MB trên đầu mỗi phiên. Các phiên bổ sung có thể được ghi cho cùng một đĩa, nhưng để lại 50MB trên đầu mỗi phiên. Cái này giống như Packet writing nhưng không phải là điều tương tự. Để đọc các đĩa ghi gói trong định dạng UDF 1.5 hay mới hơn, bạn phải cài đặt bộ đọc UDF như đã làm với các phiên bản trước của windows. Thay vì dùng IMAPI, tôi đề nghị cài đặt một chương trình CD-Mastering của bên thứ ba có hỗ trợ UDF Packet Writing, như là Eassy Media Creator của Roxio hay Ahead Nero.

Khi bỏ đĩa ghi gói ra khỏi ổ đĩa, phần mềm packet-writing đầu tiên yêu cầu liệu bạn muốn các tệp tin hiển hiện đối với các ổ đĩa. Nếu bạn thực hiện, kế tiếp phiên phải được đóng. Thậm chí nếu phiên đóng, bản vẫn có thể ghi nhiều vào đĩa sau đó, nhưng tồn tại một phần phía trên (overhead) không gian bị lãng cho mỗi lần bạn đóng phiên. Nếu đang đọc đĩa rong ổ đĩa CD-RW, bạn không phải đóng phiên do đó sẽ có khả năng đọc các tệp tin ngay cả nếu phiên không bị đóng.

Chú ý :

Nếu bạn không chắc loại ổ đĩa nào sẽ được dùng để đọc đĩa, tôi đề nghị không dùng đĩa. Điều này cho phép người dùng nhiều loại ổ đĩa để đọc đĩa này, mặc dù một chương trình đọc UDF tương thích cũng phải được cài đặt trong một số trường hợp.

Một tiêu chuẩn mới hơn được gọi là Mount Rainier (Mt.rainier) thêm nhiều khả năng cho packet – writing. Với Mount Rainier, packet writing trở thành một phần chính thức của hệ điều hành và các ổ đĩa hỗ trợ quản lý phát hiện cần thiết để làm chúng hữu dụng như lưu trữ động trong thực tế. Để có nhiều thông tin, xem phần “Mounte Rainter” trong chương này.

Ghi chú:
Với Service Pack 1, Microsoft đã phát hành những nâng cấp cho Windows XP thêm hỗ trợ dành riêng cho tiêu chuẩn Mount Rainier, hỗ trwoj packet writing kéo và thả đầy đủ thông qua các ổ đĩa CD-MRW cũng như các ổ đĩa DVD+MRW. Microsoft Windows 7 và Vista bao gồm hỗ trợ dành riêng của Mount Rainier.

Theo “Nâng cấp và sửa chữa máy tính” Scott Mueller