Photo CD

Photo CD

Đầu tiên được giới thiệu sau năm 1990 nhưng không sẵn sàng để dùng cho đến năm 1992, Photo CD là một tiêu chuẩn cho các đĩa CD-R và ổ đĩa để lưu trữ hình ảnh. Phiên bản 1.0 của tiêu chuẩn photo CD được công bố vào tháng 12 năm 1994. Mặc dù, Kodak đầu tiên bán các thiết bị đọc Photo CD (player) được kết nối đến một truyền hình, phần lớn người dùng Phôt CD dùng ổ đĩa quang trên máy tính với phần mềm để giải mã và hiển thị những hình ảnh.
Có lẽ lợi ích chính Phôt CD mang lại bản giấy vì nó là định dạng CD đầu tiên dùng đặc điểm kỹ thuật Orange Book Part II (CD-R) với những ghi đa phiên. Thêm nữa, dữ liệu được ghi trên các Sector CD-ROM XA Mode 2, Form 2; do vậy quá nhiều thông tin hình ảnh có thể được lưu trữ trên đĩa.
Định dạng mã hóa PhotoYCC của Kodak đưuọc sử dụng để lưu trữ 6 độ phân giải cho mỗi hình ảnh như được thể hiện trong bảng 11.20. Độ phân giải x64 chỉ được hỗ trợ bởi phiên bản chính Pro Phôt CD của dịch vụ này.
Tại thời điểm phần mềm soạn thảo hình ảnh còn sơ khai, khả năng chọn những kích cỡ khác nhau cho các mục đích khác nhau khá hữu dụng. Tuy nhiên, với sự gia tăng các PC tốc độ cao chạy Adobe Photoshop, Adobe Photoshop Elements và các chương trình soạn thảo hình ảnh khác, cùng với các ổ đĩa quang có khả năng ghi sẵn và ghi lại giá thấp tốc độ cao, định dạng Photo CD trở nên lỗi thời. Kodak ngưng sự phát triển trong đầu thế kỷ 21 và các phòng thí nghiệm bên thứ ba ngưng nghiên cứu nó năm 2004. Kodak vẫn cung cấp các tình điều khiển, phần mềm và chương trình cơ sở nâng cấp cho Pro Phôt CD tại www.kodak.com/global/en/service/professional/products/ekn017045.jhtml.
Picture CD
Như một sự thay thế cho Phôt CD Kodak hiện nay cung cấp dịch vụ Picture CD đơn giản hơn. Không giống như Phôt CD, Picture CD dùng định dạng tệp tin JPEG tiêu chuẩn công nghiệp. Nó dùng một CD-R, lên tới 40 hình ảnh được lưu trữ trong một quét độ phân giải trung bình 1.024×1.536 pixel. Độ phân giải này thích hợp cho ảnh in âm bản 4”x6” và 5”x7”. Những hình ảnh cũng được thực hiện qua Kodak Phôt Net, nơi những hình ảnh tương tự được gửi thông báo trực tuyến và có thể tải về. Thêm nữa, Kodak có một dịch vụ được gọi là Picture Disk lưu trữ lên đến 28 hình ảnh trên đĩa mềm 1.44MB tại độ phân giải 400×600, phù hợp cho những trình tiện ích tiết kiệm màn hình và chiếu slide.
Phần mềm được cung cấp với Picture CD cho phép người dùng thao tác những hình ảnh với các hoạt động tự động và bán tự động khác nhau, nhưng không giống như Photo CD, định dạng tệp tin JPEG (JPG) tiêu chuẩn được cho lưu trữ cho phép bất kỳ chương trình soạn thảo hình ảnh thông dụng nào làm việc với những hình ảnh không có quá trình chuyển đổi. Mặc dù chất lượng hình ảnh của Picture CD không đẹp bằng Photo CD nhưng giá cả thấp hơn nhiều của dịch vụ này làm nó khá phổ dụng đối với những nhiếp ảnh gia không được chuyên. Fujifilm và Agfa cũng cho những dịch vụ tương tự Picture CD và một số lưu trữ cho phép bạn đặt Kodak Picture CD trong lựa chọn thương hiệu lưu trữ hay xử lý phim Kodak.
Ghi chú:
Bằng cách quét các âm bản 35mm bằng máy quét phim sàn phẳng tốc độ cao hay chuyên dụng, bạn có nhiều độ phân giải khá cao (lên tới 4.800 dpi quang) hỗ trợ kích cỡ hình ảnh lớn hơn của Picture CD. Cho thí dụ, một quét 3.200dpi phim âm bản 35mm toàn khung có độ phân giải khoảng 2.570×4.450 pixel. Bằng cách tự quét các âm bản, bạn cũng chọn chất lượng hình ảnh JPEG và lưu các hình ảnh trong các định dạng khác, như là TIFF. Một số phòng thí nghiệm hình ảnh cung cấp những dịch vụ quét và phát triển phim độ phân giải cao nếu bạn không muốn quét phim của chính bạn.
White Book Video CD
White Book được giới thiệu năm 1993 bởi Philips, JVC, Matsushita và Sony. Nó trên cơ sở tiêu chuẩn Green Book (CD-i) và CD-ROM XA, cho phép lưu trữ lên tới 74 phút MPEG-1 video và dữ liệu âm thanh kỹ thuật số ADPCM trên một đĩa. Phiên bản mới nhất (2.0) được phát hành vào tháng 4 năm 1995. Video CD 2.0 hỗ trợ sự nén MPEG-1 với một tốc độ bit 1.15Mbps. Độ phân giải màn hình 352×240 cho định dạng NTSC và 352×2888 cho định dạng European PAL. Thêm nữa, nó hỗ trợ âm thanh nổi tương thích Dolby Pro Logic.
Bạn có nghĩ về các video CD như một loại định dạng DVD của người nghèo, mặc dù chất lượng hình ảnh và âm thanh thực sự khá hay – chắc chắn tốt hơn VHS hay phần lớn những định dạng video tape khác. Bạn có thể chơi các video CD trên bất kỳ PC nào với một ô đĩa quang dùng Windows Media Player tự do ( những ứng dụng người chơi đĩa khác cũng được dùng). Chúng cũng có thể được chạy trên các đầu DVd và thậm chí một số bàn giao tiếp trò chơi, như là Playstation (với những tùy chọn đúng). Mặc dù bạn tạo ra VCD với các chương trình sản xuất DVd thông dụng như là Roxio Easy Media Creator, đĩa ghi VCD thì khó tìm thấy hôm nay, do sự phổ biến của định dạng DVD chất lượng cao hơn (và bảo vệ chống sao chép dễ dàng hơn) và các loại tương đương có độ phân giải cao hơn (Blu-ray và HD-DVD).
Super Video CD
Super Video CD đặc điểm kỹ thuật 1.0 được công bố vào tháng 5 năm 1999, là phiên bản mở rộng của đặc điểm kỹ thuật White Book Video CD. Nó dùng nén MPEG-2, độ phân giải màn hình NTSC 480×480 và độ phân giải màn hình PAL 480×576; nó cũng hỗ trợ âm thanh vòm (surround sound) MPEG 2.5.1 và đa ngôn ngữ.
Phần lớn chương trình tạo DVd tại gia có thể làm ra các video CD hay Super Video CD.
Blue Book CD EXTRA
Các nhà sản xuất đĩa CD-DA đang tìm một phương pháp tiêu chuẩn để kết hợp cả âm nhạc lẫn dữ liệu trên CD. Mục địch là cho người dùng có thể chỉ chạy các rãnh âm thanh trong đầu audio CD tiêu chuẩn trong khi vẫn không nhận biết rãnh ghi dữ liệu. Tuy vậy, người dùng với máy tính hay đầu kết hợp âm thanh/dữ liệu chuyên dụng có thể truy cập các rãnh ghi âm thanh và dữ liệu trên cùng.
Vấn đề cơ bản với những CD chế độ được trộn không tiêu chuẩn là nếu khi một đầu âm thanh cố gắng chạy rãnh ghi dữ liệu, kết quả là đứng yên gây ra theo nghĩa tổn hại cho loa và có thể nghe được nếu có âm lượng. Những nhà sản xuất khác nhau ban đầu định vị vấn đề này bằng nhiều cách, dẫn đến một số phương pháp rối rắm cho việc tạo ra những loại đĩa này, một số trong chúng vẫn cho phép các rãnh ghi dữ liệu được “vận hành” ngẫu nhên trên đầu âm thanh. Năm 1995, Philips và Sony phát triển đặc điểm kỹ thuật CD EXTRA, như đã định rõ trong tiêu chuẩn Blue Book. Các CD phù hợp với đặc điểmkỹ thuật này thường được xem như những đĩa CD EXTRA (trước kia được gọi là CD Plus hay CD Enhanced Music) và dùng công nghệ đa phiên được định rõ trong tiêu chuẩn CD-ROM XA để tách rời các rãnh ghi dữ liệu và âm thanh. Những đĩa này là một hình thức của đĩa đa phiên được rập. Phần âm thanh của đĩa bao gồm lên tới 98 rãnh ghi âm thanh Red Book tiêu chuẩn, trong khi rãnh dữ liệu gồm có các sector XA Mode 2, chứa video, các ca khúc trữ tình, các hình ảnh tĩnh và nội dung đa phương tiện khác. Những đĩa này được định dạng bởi biểu trưng CD EXTRA, là biểu trưng CD-DA tiêu chuẩn với một ký hiệu dấu cộng phía bên phải. Thường thì biểu trưng hay nhãn mác trên gói đĩa bị bỏ qua hay che khuất, bạn có thể không biết một CD âm thanh chứa dữ liệu dư thừa này có đến khi chạy nó trong một ổ đĩa quang trên máy tính.
Một đĩa CD EXTRA thông thường chứa hai phiên. Do các đầu CD âm thanh chỉ có một phiên, chúng chỉ vận hành được phiên âm thanh và lờ đi phiên thêm chứa dữ liệ. Tuy nhiên một ổ đĩa quang trongmasy tính, thấy hai phiên trên đĩa và truy cập cả hai rãnh dữ liệu lẫn âm thanh.
Ghi chú:
Nhiều nghệ sĩ phát hành các CD âm thanh trên định dạng CD EXTRA bao gồm những phần nhwunxg bài hát được ưa chuộng, video, tiểu sử nghệ sĩ, hình ảnh và nhiều nữa trong các tệp tin dữ liệu trên đĩa. Tidal do Fiona Apple (được phát hành năm 1996) là một trong các đĩa CD EXTRA đầu tiên từ Sony Music. Có nhiều phát hành CD EXTRA từ đó. Cho thí dụ những đĩa CD EXTRA (Enhanced CD) khác, bao gồm những phát hành hiện nay, xem www.musicfan.com.
Theo “Nâng cấp và sửa chữa máy tính” Scott Mueller