Tốc độ ổ đĩa DVD

Tốc độ ổ đĩa DVD

Như với các CD, DVD quay ngược chiều kim đồng hồ (như đã nói trong tia laser đọc) và điển hình được ghi ở tốc độ ghi dữ liệu ổn định gọi là CLV. Do đó, rãnh ghi (và do vậy dữ liệu) luôn luôn di chuyển qua tia laser đọc cùng tốc độ, ban đầu tốc độ được xác định là 3.49 mét/giây (hay 3.84 mps trên những đĩa hai lớp). Bởi vì rãnh là một xoắn ốc nên bị hư tổn phần gần trung tâm của đĩa hơn, đĩa phải quay ở những tốc độ khác nhau để duy trì tốc độ tuyến rãnh ghi. Mặc khác, để duy trì một CLV, đĩa phải quay nhanh hơn khi đọc vùng rãnh trong và chậm hơn khi đọc vùng rãnh ngoài. Tốc độ vòng quay trong một đĩa 1x (3.49 mét/giây được coi là 1x) thay đổi từ 1.515 rpm khi đọc phần bắt đầu (phần trong) của rãnh ghi đến 570 rpm khi đọc phần cuối (phần ngoài) của rãnh.

Những ổ đĩa DVD tốc độ đơn (1x) cung cấp tốc độ truyền tải dữ liệu 1.385MBps, điều đó nghĩa là tốc độ truyền tải dữ liệu của một DVD tốc độ 1x đại khái tương đương một CD 9x ( tốc độ truyền tải dữ liệu CD 1x là 153.6KBps hay 0.1536MBps). Tuy vậy điều này không có nghĩa là một ổ đĩa DVD 1x có thể đọc các CD ở tốc độ 9x; các ổ đĩa DVD thực tế quay ở tốc độ chỉ dưới 3 lần nhanh hơn ổ đĩa CD cùng tốc độ. Do đó một ổ đĩa DVD 1x quay khoảng cùng tốc độ quay như ổ đĩa CD 2.7x. Nhiều ổ đĩa DVD thường liệt kê 2 tốc độ, một để đọc các DVD, một để đọc các CD. Ví dụ, một ổ đĩa DVD được liệt kê như một 16x/40x để chỉ ra tốc độ khi đọc các DVD/CD theo thứ tự.

Mỗi cột trong Bảng 11.24 được giải thích như sau:

Cột 1 chỉ tốc độ ổ đĩa được quảng cáo. Đó là tốc độ không đổi nếu ổ đĩa là CLV (hầu hết là 12x và thấp hơn) hay một tốc độ tối đa chỉ có ở CAV.

Cột 3=>6 cho biết tốc độ “x” tối thiểu thực tế của các ổ đĩa CA, cùng với tốc độ truyền tối thiểu (khi đọc từ phần đầu của bất kỳ đĩa nào) và một tốc độ trung bình tối ưu (đúng chỉ khi đọc một đĩa đầy đủ, nếu không, nó có thể thấp hơn) trong cả hai định dạng “x” và byte cho mỗi giây.

Như với những ổ đĩa CD, các nhà sản xuất ổ đĩa DVD bắt đầu tăng tốc độ của các ổ đĩa của họ bằng cách làm cho chúng quay nhanh hơn. Một ổ đĩa quay nhanh gấp 2 lần được gọi là ổ đĩa 2x, một ổ đĩa quay nhanh hơn 4 lần gọi là 4x và vân vân. Tại tốc độ cao hơn, nó có thể trở lại khó khăn hơn để tạo ra các mô tơ có thể thay đổi các tốc độ (quay nhanh hay quay chậm) nhanh cần thiết khi dữ liệu được đọc từ các phần khác nhau của đĩa. Điều này được gọi là tốc độ góc không đổi (CAV: constant angular velocity) bởi vì tốc độ góc (hay tốc độ quay) giữ nguyên không đổi.

Ổ đĩa DVD đã có sẵn với tốc độ lên tới 20x hay nhiều hơn, nhưng hầu như là CAV thật sự đạt được tốc độ truyền ước lượng chỉ khi đọc phần ngoài của đĩa. Bảng 11.25 chỉ ra những tốc độ truyền tải dữ liệu cho các ổ đĩa DVd đọc DVD và làm cách nào mà các tốc độ này so sánh với một ổ đĩa CD.

Những ổ đĩa nhanh hơn hữu ích cốt yếu cho những dữ liệu, không phải cho video. Việc có một ổ đĩa nhanh hơn có thể giảm hay loại bỏ sự ngắt quãng trong quá trình thay đổi lớp khi chạy một đĩa video DVD, nhưng việc có một ổ đĩa chạy nhanh hơn không ảnh hưởng đến chất lượng video.

Cột 1 chỉ ra tốc độ ổ đĩa được quảng cáo. Đó là tốc độ ổn định nếu ổ đĩa là CLV hay tốc độ tối đa nếu chỉ là CAV (hầu hết các ổ đĩa DVD là CAV).

Cột 2 và 3 thể hiện phải mất bao lâu thì một ổ đĩa có thể đọc hết một đĩa (đĩa một lớp hay hai lớp) nếu ổ đĩa là CLV. Đối với các ổ đĩa CAV, những thông số này dài hơn bởi vì tốc độ đọc trung bình thấp hơn tốc độ được quảng cáo. Cột thứ 4 cho biết tốc độ truyền dữ liệu, cho những ổ đĩa CAV là thông số cao nhất chỉ thấy khi phần cuối của đĩa.

Cột 4=>8 thể hiện tốc độ “x” tối thiểu thực tế cho các ổ đĩa CAV, cùng với tốc độ truyền dữ liệu thấp nhất (khi đọc phần đầu của bất kỳ đĩa nào) và một tốc độ trung bình tối ưu (chỉ đúng khi đọc một đĩa đủ, nếu không, nó còn thấp hơn) trong cả hai định dạng “x” và byte cho mỗi giây.

Cột 9=>10 cho biết những tốc độ tuyến tối đa mà ổ đĩa sẽ đạt dược, trong bao nhiêu mét cho mỗi giây và bao nhiêu dặm cho mỗi giờ. Các ổ đĩa CLV duy trì những tốc độ này ở mọi nơi trên đĩa, trong khi các ổ đĩa CAV đạt được những tốc độ này chỉ ở phần bên ngoài của đĩa.

Cột 11=> 12 cho biết các tốc độ quay của một ổ đĩa. Cột đầu của hai cột này thể hiện đĩa đã quay nhanh như thế nào khi đọc phần bắt đầu của một đĩa. Điều này áp dụng cho cả hai ổ đĩa CAV và CLV. Đối với các ổ đĩa CAV; số liệu đó là ổn định bất kể phần nào trên đĩa được đọc. Cột thứ hai trong hai cột này thể hiện tốc độ quay cao nhất nếu ổ đĩa là một loại CLV. Bởi vì hầu hết các ổ đĩa nhanh là CAV, những thông số này hầu như là trên lý thuyết cho các ổ đĩa chạy nhanh hơn.

Cột thứ 13 chỉ ra tốc độ mà ổ đĩa được ước lượng nếu nó là ổ đĩa CD. Điều này dựa vào tốc độ quay, không phải tốc độ truyền. Nói cách khác, một ổ đĩa DVD 12x có tốc độ như ổ đĩa CD 32x khi đọc các CD. Hầu hết các ổ đĩa DVD đều liệt kê tốc độ của nó khi đọc đĩa CD trong phần đặc điểm kỹ thuật. Nhờ vào việc sử dụng các thiết kế PCAV (Partical CAV), một vài ổ đĩa có thể có tốc độ CD cao hơn những con số ghi trong bảng.

Thời gian truy cập

Thời gian truy cập cho một ổ đĩa quang được đo lường cùng một cách như với một ổ đĩa cứng của PC. Nói một cách khác, thời gian truy cập là thời gian trì hoãn giữa ổ đĩa nhận lệnh để đọc thật sự một bit dữ liệu đầu tiên của nó. Thời gian này được ghi lại trong hàng triệu giây; một đánh giá của nhà sản xuất bình thường có thể là 95ms. Đó là một tốc độ truy cập trung bình; tốc độ truy cập thực tế phụ thuộc hoàn toàn vào vị trí dữ liệu trên đĩa. Khi cơ cấu đọc được định vị vào phần gần trung tâm chu vi hẹp hơn, tốc độ truy cập nhanh hơn là khi nó được đặt vị trí ở chu vi bên ngoài rộng hơn. Các tốc độ truy cập được báo bởi nhà sản xuất là số trung bình lấy từ việc tính toán một chuỗi đọc ngẫu nhiên từ một đĩa.

Bộ nhớ đệm

Hầu hết ổ đĩa đĩa quang bao gồm các bộ nhớ đệm (buffer hay cache) bên trong bên bo mạch. Những bộ nhớ đệm này thực sự là những chip nhớ được lắp đặt trên bo mạch điện của ổ đĩa cho phép ổ đĩa sắp xếp hay lưu trữ dữ liệu trong các phân đoạn lớn hơn trước khi gửi đến PC. Một bộ nhớ đệm thường từ 128KB lên tới 8MB hay nhiều hơn (tùy thuộc ổ đĩa). Nói chung, các ổ đĩa có khả năng ghi lại nhanh hơn đi với bộ nhớ đệm lớn hơn để xử lý những tốc độ truyền cao hơn.

Theo “Nâng cấp và sửa chữa máy tính” Scott Mueller